Blog Single

Thời gian thẩm định báo cáo kinh tế kỹ thuật

Thời gian thẩm định báo cáo kinh tế kỹ thuật từ 01/07/2026

Được kiểm duyệt chuyên môn bởi Ông Lê Hoàng Tuyên
Chức danh: Sáng lập viên & CEO – MAN Master Accountant Network
Chứng chỉ hành nghề: Kiểm toán viên CPA Việt Nam
Kinh nghiệm: Hơn 30 năm trong lĩnh vực Kế toán, Kiểm toán và Tư vấn Tài chính
Lưu ý: Nội dung được biên soạn dựa trên các quy định pháp luật hiện hành và chỉ mang tính tham khảo. Việc áp dụng vào từng trường hợp cụ thể cần được tư vấn trực tiếp bởi chuyên gia của MAN sau khi xem xét hồ sơ thực tế.

Thời gian thẩm định báo cáo kinh tế kỹ thuật từ ngày 01/07/2026 không được xác định theo một mốc 20 ngày làm việc chung cho mọi dự án. Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 quy định Báo cáo kinh tế – kỹ thuật vẫn phải được thẩm định làm cơ sở phê duyệt dự án, nhưng trường hợp chỉ lập Báo cáo kinh tế – kỹ thuật không yêu cầu thẩm định tại cơ quan chuyên môn về xây dựng. Cơ chế và chủ thể thẩm định cần được xác định theo loại dự án và quy định áp dụng.

Căn cứ pháp lý về thẩm định báo cáo kinh tế – kỹ thuật

Từ ngày 01/07/2026, việc lập và thẩm định Báo cáo kinh tế – kỹ thuật được điều chỉnh chủ yếu bởi Luật Xây dựng số 135/2025/QH15Nghị định số 217/2026/NĐ-CP. Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 được Quốc hội ban hành ngày 10/12/2025 và có hiệu lực từ ngày 01/07/2026; Nghị định số 217/2026/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 19/06/2026 và cũng có hiệu lực từ ngày 01/07/2026.

Hai văn bản này cần được đọc cùng nhau khi xác định thời gian và cơ chế thẩm định, bởi Luật Xây dựng quy định nguyên tắc, chủ thể và phạm vi thẩm định, trong khi Nghị định 217/2026/NĐ-CP quy định cụ thể hơn về việc lập hồ sơ và tổ chức thẩm định.

Đối với Báo cáo kinh tế – kỹ thuật, một số quy định quan trọng cần lưu ý gồm:

  • Điều 23 Luật Xây dựng 2025 quy định các trường hợp dự án chỉ cần lập Báo cáo kinh tế – kỹ thuật.
  • Điều 25 Luật Xây dựng 2025 quy định nội dung Báo cáo kinh tế – kỹ thuật.
  • Điều 26 Luật Xây dựng 2025 quy định Báo cáo nghiên cứu khả thi và Báo cáo kinh tế – kỹ thuật phải được thẩm định làm cơ sở phê duyệt dự án, quyết định đầu tư xây dựng.
  • Khoản 2 Điều 27 Luật Xây dựng 2025 quy định trường hợp dự án chỉ cần lập Báo cáo kinh tế – kỹ thuật thì không yêu cầu thẩm định tại cơ quan chuyên môn về xây dựng.
  • Điều 31 Nghị định 217/2026/NĐ-CP quy định việc thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi, Báo cáo kinh tế – kỹ thuật của người quyết định đầu tư.

Điểm cần phân biệt là “không yêu cầu thẩm định tại cơ quan chuyên môn về xây dựng” không có nghĩa là “Báo cáo kinh tế – kỹ thuật không phải thẩm định”. Điều 26 vẫn xác định Báo cáo kinh tế – kỹ thuật phải được thẩm định làm cơ sở phê duyệt dự án, quyết định đầu tư xây dựng.

Thời gian thẩm định báo cáo kinh tế – kỹ thuật là bao lâu

Thời gian thẩm định báo cáo kinh tế kỹ thuật từ 01/07/2026
Thời gian thẩm định báo cáo kinh tế kỹ thuật từ 01/07/2026

Từ ngày 01/07/2026, pháp luật không quy định một thời hạn 20 ngày làm việc chung cho tất cả Báo cáo kinh tế – kỹ thuật. Khoản 2 Điều 27 Luật Xây dựng 2025 loại trường hợp chỉ lập Báo cáo kinh tế – kỹ thuật khỏi phạm vi thẩm định tại cơ quan chuyên môn về xây dựng, còn việc thẩm định của người quyết định đầu tư thực hiện theo Điều 26 Luật Xây dựng và Điều 31 Nghị định 217/2026/NĐ-CP.

Vì vậy, nếu hồ sơ đang được áp dụng từ ngày 01/07/2026, không nên lấy mốc 20 ngày làm việc một cách mặc định để trả lời câu hỏi thời gian thẩm định Báo cáo kinh tế – kỹ thuật.

Thời gian thực tế cần được xác định từ cơ chế thẩm định của dự án, cơ quan hoặc đơn vị được người quyết định đầu tư giao thẩm định và tình trạng đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ.

Trường hợp dự án chỉ cần lập Báo cáo kinh tế – kỹ thuật

Luật Xây dựng 2025 quy định dự án chỉ cần lập Báo cáo kinh tế – kỹ thuật trong các trường hợp thuộc khoản 2 Điều 23. Nghị định 217/2026/NĐ-CP cụ thể hóa nhóm dự án quy mô nhỏ hoặc có tính chất kỹ thuật đơn giản, trong đó có dự án có tổng mức đầu tư không quá 40 tỷ đồng, không bao gồm chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng và tiền sử dụng đất.

Đối với nhóm dự án này, khoản 2 Điều 27 Luật Xây dựng 2025 quy định không yêu cầu thẩm định tại cơ quan chuyên môn về xây dựng. Tuy nhiên, Báo cáo kinh tế – kỹ thuật vẫn phải được thẩm định theo Điều 26 để làm cơ sở phê duyệt dự án, quyết định đầu tư xây dựng.

Đây là điểm có ý nghĩa trực tiếp đối với chủ đầu tư và ban quản lý dự án. Khi lập kế hoạch tiến độ, không nên hiểu quy định trên thành việc hồ sơ được miễn toàn bộ bước thẩm định.

Cơ chế thẩm định theo loại dự án

Điều 31 Nghị định 217/2026/NĐ-CP phân định cơ chế thẩm định của người quyết định đầu tư theo từng nhóm dự án. Đối với dự án đầu tư công quan trọng quốc gia, Bộ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể thành lập Hội đồng thẩm định theo trường hợp được quy định; đối với dự án PPP, việc thẩm định của cơ quan có thẩm quyền thực hiện theo pháp luật về đầu tư theo phương thức PPP; các trường hợp còn lại do người quyết định đầu tư giao cơ quan phù hợp chủ trì thẩm định.

Đối với dự án đầu tư công, Điều 26 Luật Xây dựng 2025 cũng quy định người quyết định đầu tư giao cơ quan chuyên môn trực thuộc hoặc cơ quan, tổ chức có chuyên môn phù hợp thực hiện thẩm định. Riêng với Báo cáo kinh tế – kỹ thuật, nội dung thẩm định còn bao gồm việc đánh giá thiết kế bản vẽ thi công về bảo đảm an toàn công trình, biện pháp bảo đảm an toàn công trình lân cận và giải pháp thiết kế về phòng cháy, chữa cháy theo quy định.

Do đó, cùng là Báo cáo kinh tế – kỹ thuật nhưng chủ thể thực hiện và quy trình thẩm định có thể khác nhau tùy loại dự án. Đây là lý do không thể áp một thời hạn duy nhất cho mọi hồ sơ.

Vì sao không thể mặc định thời gian thẩm định là 20 ngày

Mốc 20 ngày làm việc thường được nhắc đến khi tra cứu quy định về thời gian thẩm định dự án xây dựng. Tuy nhiên, Điều 37 Nghị định 217/2026/NĐ-CP có tên là “Thời gian thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi của cơ quan chuyên môn về xây dựng, Hội đồng thẩm định”, không phải quy định thời gian chung cho mọi Báo cáo kinh tế – kỹ thuật.

Điều 37 quy định thời gian thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi được tính từ ngày cơ quan thẩm định nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Các mức thời gian được phân theo loại dự án và cấp công trình, gồm 60 ngày đối với dự án quan trọng quốc gia; 25 hoặc 20 ngày làm việc đối với các trường hợp dự án nhóm A; 20 hoặc 16 ngày làm việc đối với dự án nhóm B; 15 hoặc 12 ngày làm việc đối với dự án nhóm C.

Như vậy, 20 ngày không phải là “thời hạn thẩm định Báo cáo kinh tế – kỹ thuật” theo nghĩa áp dụng chung. Đây là một trong những điểm dễ gây nhầm lẫn khi đọc Điều 37 mà không đối chiếu với Điều 26 và Điều 27 của Luật Xây dựng 2025.

Các mốc 12 đến 60 ngày tại Điều 37 áp dụng cho trường hợp nào

Các mốc từ 12 đến 60 ngày tại Điều 37 Nghị định 217/2026/NĐ-CP áp dụng cho thời gian thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi của cơ quan chuyên môn về xây dựng, Hội đồng thẩm định. Thời gian được tính từ ngày cơ quan thẩm định nhận đủ hồ sơ hợp lệ, với mức cụ thể phụ thuộc vào loại dự án và cấp công trình.

Nội dung Báo cáo kinh tế – kỹ thuật Báo cáo nghiên cứu khả thi Lưu ý
Căn cứ chính Điều 26, Điều 27 Luật Xây dựng 2025 và Điều 31 Nghị định 217/2026/NĐ-CP Điều 27 Luật Xây dựng 2025 và Điều 37 Nghị định 217/2026/NĐ-CP Đối chiếu đúng cơ chế thẩm định
Cơ chế thẩm định Theo cơ chế thẩm định của người quyết định đầu tư Có trường hợp do cơ quan chuyên môn về xây dựng hoặc Hội đồng thẩm định thực hiện Không đồng nhất hai cơ chế
Mốc 12 đến 60 ngày tại Điều 37 Không phải thời hạn chung Áp dụng cho thời gian thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi Không áp ngược cho BCKTKT
Mốc 20 ngày Không được mặc định áp dụng Có thể áp dụng trong một số trường hợp theo loại dự án Phải xác định đúng loại báo cáo

Điểm cốt lõi là không được lấy bảng thời hạn tại Điều 37 rồi áp ngược cho Báo cáo kinh tế – kỹ thuật. Muốn xác định thời gian xử lý một hồ sơ cụ thể, cần xác định trước dự án thuộc nhóm nào và ai là chủ thể thẩm định.

Quy trình xác định thời gian thẩm định báo cáo kinh tế – kỹ thuật

Với hồ sơ thực tế, việc xác định thời gian không nên bắt đầu bằng câu hỏi “20 ngày hay 30 ngày”, mà nên bắt đầu bằng việc xác định đúng cơ chế pháp lý của dự án. Chủ đầu tư có thể đối chiếu thêm các nội dung về kiểm toán xây dựng cơ bản khi cần kiểm soát hồ sơ, chi phí và tuân thủ trong quá trình đầu tư xây dựng.

Trước hết, cần xác định dự án có thuộc trường hợp chỉ cần lập Báo cáo kinh tế – kỹ thuật theo Điều 23 Luật Xây dựng 2025 và Điều 27 Nghị định 217/2026/NĐ-CP hay không. Đây là bước quyết định loại báo cáo cần lập và phạm vi thẩm định tiếp theo.

Tiếp theo, cần xác định loại dự án, nguồn vốn và chủ thể quyết định đầu tư. Đối với dự án đầu tư công, PPP và các trường hợp khác, cơ chế thẩm định được pháp luật phân định khác nhau. Điều 31 Nghị định 217/2026/NĐ-CP là căn cứ quan trọng để xác định cơ quan hoặc đơn vị chủ trì thẩm định trong các trường hợp thuộc thẩm quyền của người quyết định đầu tư.

Sau đó, chủ đầu tư hoặc cơ quan chuẩn bị dự án cần kiểm tra hồ sơ đề nghị thẩm định. Khi dự án chuyển sang giai đoạn hoàn thành, việc kiểm soát hồ sơ quyết toán cũng cần được chuẩn bị song song; có thể tham khảo kiểm toán quyết toán dự án hoàn thành của MAN để đối chiếu các nhóm hồ sơ và nội dung kiểm tra thường gặp.

Từ góc độ kiểm soát hồ sơ xây dựng, đây cũng là bước cần được chú trọng. Một hồ sơ phải xác định đúng cơ quan nhận, đúng chủ thể thẩm định và đầy đủ tài liệu theo yêu cầu trước khi có thể xác định tiến độ xử lý một cách thực tế.

Đối với chủ đầu tư và ban quản lý dự án, việc rà soát cơ chế thẩm định ngay từ giai đoạn chuẩn bị hồ sơ có ý nghĩa hơn việc chỉ theo dõi một con số thời hạn. Kinh nghiệm kiểm soát hồ sơ của MAN – Master Accountant Network cho thấy tiến độ xử lý hồ sơ xây dựng thường phụ thuộc đồng thời vào căn cứ pháp lý, phạm vi hồ sơ, tính nhất quán của tổng mức đầu tư và các nội dung thiết kế.

Những nhầm lẫn thường gặp về thời gian thẩm định

Nhầm 20 ngày là thời hạn chung của báo cáo kinh tế – kỹ thuật

Đây là cách hiểu cần tránh. Điều 37 Nghị định 217/2026/NĐ-CP quy định thời gian thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi của cơ quan chuyên môn về xây dựng, Hội đồng thẩm định. Trong khi đó, dự án chỉ cần lập Báo cáo kinh tế – kỹ thuật thuộc trường hợp không yêu cầu thẩm định tại cơ quan chuyên môn về xây dựng theo khoản 2 Điều 27 Luật Xây dựng 2025.

Vì vậy, khi hồ sơ của doanh nghiệp hoặc ban quản lý dự án là Báo cáo kinh tế – kỹ thuật, cần xác định cơ chế thẩm định theo Điều 26 Luật Xây dựng và Điều 31 Nghị định 217 trước khi xác định thời gian xử lý.

Nhầm không thẩm định tại cơ quan chuyên môn với không phải thẩm định

Hai khái niệm này không giống nhau.

Luật Xây dựng 2025 đồng thời quy định Báo cáo kinh tế – kỹ thuật phải được thẩm định để làm cơ sở phê duyệt dự án, quyết định đầu tư xây dựng và quy định trường hợp dự án chỉ cần lập Báo cáo kinh tế – kỹ thuật thì không yêu cầu thẩm định tại cơ quan chuyên môn về xây dựng.

Do đó, việc xác định đúng chủ thể thẩm định quan trọng không kém việc xác định thời hạn. Nếu chỉ dựa vào cụm từ “không yêu cầu thẩm định tại cơ quan chuyên môn về xây dựng”, người lập hồ sơ có thể hiểu sai rằng dự án được miễn bước thẩm định.

Ví dụ xác định cơ chế thẩm định trong thực tế

Giả sử một dự án thuộc nhóm chỉ cần lập Báo cáo kinh tế – kỹ thuật theo Điều 23 Luật Xây dựng 2025 và Điều 27 Nghị định 217/2026/NĐ-CP. Khi đó, bước đầu tiên là xác định dự án không thuộc trường hợp phải thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi tại cơ quan chuyên môn về xây dựng.

Tiếp theo, căn cứ Điều 26 Luật Xây dựng 2025 và Điều 31 Nghị định 217/2026/NĐ-CP, người quyết định đầu tư xác định cơ quan hoặc đơn vị thực hiện thẩm định theo cơ chế áp dụng cho dự án. Vì vậy, không thể chỉ nhìn vào quy mô dự án rồi kết luận thời gian thẩm định là 20 ngày.

Trong trường hợp hồ sơ có vấn đề về tổng mức đầu tư, thiết kế bản vẽ thi công, an toàn công trình, phòng cháy và chữa cháy hoặc các nội dung thuộc phạm vi thẩm định, việc hoàn thiện hồ sơ cần được thực hiện theo yêu cầu của cơ quan hoặc đơn vị thẩm định. Ở giai đoạn quyết toán, các nội dung về kiểm toán báo cáo quyết toán dự án hoàn thành cũng cần được kiểm soát riêng, không đồng nhất với bước thẩm định Báo cáo kinh tế – kỹ thuật.

Kết luận về thời gian thẩm định báo cáo kinh tế – kỹ thuật

Thời gian thẩm định báo cáo kinh tế kỹ thuật từ ngày 01/07/2026 không có một mốc 20 ngày làm việc chung được áp dụng cho mọi dự án. Báo cáo kinh tế – kỹ thuật vẫn phải được thẩm định làm cơ sở phê duyệt dự án, quyết định đầu tư xây dựng, nhưng dự án chỉ cần lập Báo cáo kinh tế – kỹ thuật không yêu cầu thẩm định tại cơ quan chuyên môn về xây dựng. Cơ chế thẩm định được xác định theo Điều 26 Luật Xây dựng 2025 và Điều 31 Nghị định 217/2026/NĐ-CP.

Mốc 12 đến 60 ngày tại Điều 37 Nghị định 217/2026/NĐ-CP cần được hiểu là thời gian thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi của cơ quan chuyên môn về xây dựng, Hội đồng thẩm định, không phải thời hạn chung của Báo cáo kinh tế – kỹ thuật.

Với chủ đầu tư, ban quản lý dự án và đơn vị chuẩn bị hồ sơ, cách xác định đúng thời gian nên bắt đầu từ loại dự án, loại báo cáo, chủ thể thẩm định và tình trạng hồ sơ, thay vì áp dụng một mốc thời gian cố định cho mọi trường hợp.

Thông tin liên hệ
Địa chỉ: Số 19A, Đường 43, Phường Tân Thuận, TP. Hồ Chí Minh
Mobile/Zalo: 0903 963 163  –  0903 428 622
Email: ma*@*****et.vn

Câu hỏi thường gặp

Thời gian thẩm định báo cáo kinh tế kỹ thuật là bao lâu?

Pháp luật từ ngày 01/07/2026 không quy định một thời hạn chung như 20 ngày làm việc cho mọi Báo cáo kinh tế – kỹ thuật. Thời gian cần xác định theo cơ chế thẩm định của từng dự án, chủ thể được giao thẩm định và hồ sơ cụ thể theo Điều 26 Luật Xây dựng 2025 và Điều 31 Nghị định 217/2026/NĐ-CP.

Quy định 20 ngày có áp dụng cho báo cáo kinh tế kỹ thuật không?

Không thể mặc định áp dụng. Mốc 20 ngày làm việc tại Điều 37 Nghị định 217/2026/NĐ-CP nằm trong quy định về thời gian thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi của cơ quan chuyên môn về xây dựng, Hội đồng thẩm định. Quy định này không phải thời hạn chung cho Báo cáo kinh tế – kỹ thuật.

Báo cáo kinh tế kỹ thuật có phải thẩm định tại cơ quan chuyên môn về xây dựng không?

Dự án chỉ cần lập Báo cáo kinh tế – kỹ thuật theo khoản 2 Điều 23 Luật Xây dựng 2025 thì không yêu cầu thẩm định tại cơ quan chuyên môn về xây dựng theo khoản 2 Điều 27. Tuy nhiên, Báo cáo kinh tế – kỹ thuật vẫn phải được thẩm định theo Điều 26 để làm cơ sở phê duyệt dự án, quyết định đầu tư xây dựng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *